Thị trường logistisc là ‘con gà đẻ trứng vàng’ tại Việt Nam

Theo Cushman & Wakefield, Việt Nam là lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư toàn cầu về lĩnh vực công nghiệp logistisc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Từ một đất nước có xuất phát điểm thấp với GDP đầu người 1989 là 100 USD, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất tại Châu Á trong 30 năm qua, với mức tăng trưởng GDP đầu người năm 2022 là 4.100USD. Tổng vốn FDI tăng mạnh với lũy kế 452,7 tỷ USD. Trong đó, tính riêng 8 tháng đầu năm 2023 FDI đạt gần 18,15 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2022, theo Tổng cục Thống kê. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn luôn là ‘ngôi sao sáng’ thu hút đầu tư tại Đông Nam Á.

Cuộc khảo sát thường niên của Cushman & Wakefield với các khách hàng hàng đầu toàn cầu vào năm 2022 cho thấy Ấn Độ được hơn 60% số người được hỏi xếp hạng là thị trường mới nổi ưa thích của họ (trừ Trung Quốc đại lục) để đầu tư. Trên cơ sở ưu tiên thứ nhất và thứ hai, Việt Nam là thị trường mới nổi được lựa chọn, chiếm gần 80% số phiếu bầu, vượt xa 75% của Ấn Độ.

Đáng chú ý, với quy mô thị trường lớn, số lượng người tiêu dùng trực tuyến tăng nhanh, thị trường thương mại điện tử Việt Nam cũng có tốc độ tăng trưởng ngoạn mục. Cụ thể, doanh thu thương mại điện tử tiếp tục ghi nhận tăng trưởng ấn tượng trong nửa đầu năm 2023, ước đạt 10,3 tỷ USD, tăng khoảng 25% so với cùng kỳ, chiếm 7,7% doanh thu hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước.

“Trước sự phát triển của ngành thương mại điện tử, Việt Nam đang là điểm đến của nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và hậu cần. Điều này đi đôi với nhu cầu tăng cao về bất động sản logistics chất lượng cao,” bà Trang Bùi, Tổng giám đốc Cushman & Wakefield nhận định. “Đặc biệt, trong các tháng cuối năm, khi nhu cầu từ thị trường bán lẻ được dự báo tăng bằng lần, càng khiến “cơn khát” nguồn cung nhà xưởng, kho bãi trở nên gay gắt hơn.” 

Hiện, tổng nguồn cung nhà kho ở Hà Nội và TP.HCM chỉ đạt lần lượt 2.022.000 m2 và 5.130.000 m2. Các khu công nghiệp và hậu cần kho bãi tại các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM, đang có tỉ lệ lấp đầy cao, có những nơi đạt gần 100%. Nhu cầu sẽ ngày càng lớn trong thời gian tới. Theo tính toán của chúng tôi, nguồn cung không thể đáp ứng nhu cầu đang đẩy sức ép cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ và vận chuyển tăng lên. 

Hơn nữa, nối liền với nước ta là hành lang kinh tế phía Nam của Trung Quốc gồm một số vùng nổi bật như Thượng Hải, Hồng Kông, Thẩm Quyến, Phúc Kiến và Quảng Đông. Đây là vùng kinh tế được chọn làm nơi đặt trụ sở của các ông lớn công nghiệp sản xuất, hóa sinh, thương mại và công nghệ điện tử. Theo ước tính của Cushman & Wakefield, vùng này chiếm hơn 30% tổng GDP Trung Quốc năm 2021, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư và phát triển kinh tế. 

Các khu công nghiệp Việt Nam đã đón nhận làn sóng đầu tư đến từ các doanh nghiệp điện tử toàn cầu từ sớm như Panasonic (1971), LG Display (1995), Canon (2001), Foxconn (2007), Samsung (2008), Fuji Xerox (2013) và gần đây là các tập đoàn như Pegatron, Goertek, Jinko Solar. Việt Nam đang đứng trước cơ hội nâng tầm giá trị chuỗi cung ứng của nhà sản xuất và đây chính là thời cơ vàng để tăng GDP của vùng. Đặc biệt vừa qua trong chuyến thăm của tổng thống Biden, đã mang đến thỏa thuận về hợp tác toàn diện, và phát triển thị trường sản xuất công nghệ cao và bán dẫn giữa 2 quốc gia.

Với các đặc điểm địa lý thuận lợi, cũng như cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển mạnh mẽ và hàng loạt chính sách thúc đẩy đầu tư từ Chính Phủ, có thể nói Việt Nam hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết để thu hút loạt “ong chúa” đến làm tổ và đóng góp hơn nữa vào GDP Việt Nam. “Những con số ấn tượng cùng những dự báo đầy triển vọng mà chúng tôi quan sát được cho thấy tiềm năng của logistics tại Việt Nam là rất lớn, hoàn toàn có thể trở thành “gà đẻ trứng vàng” cho các chủ đầu tư có tầm nhìn và tiềm lực mạnh,” bà Trang Bùi nhận định.  

Trong đó, cơ sở hạ tầng là một phần tất yếu trong việc phát huy toàn bộ tiềm năng và sự phát triển thành công của thị trường logistics. Theo PwC, Việt Nam là quốc gia dẫn đầu châu Á về đầu tư cơ sở hạ tầng và đang chi khoảng 5,7% GDP cho lĩnh vực này. 

Cụ thể, trên toàn quốc có tổng chiều dài đường bộ 595.201 km, trong đó, đường bộ quốc gia là 25.560 km. Mạng lưới đường cao tốc đã đưa vào khai thác là 1.239 km; đang triển khai xây dựng khoảng 14 tuyến, đoạn tuyến, tương đương với 840 km. Các đô thị lớn như Hà Nội tập trung ưu tiên cho dự án đường Vành đai 4, trong khi TP. Hồ Chí Minh sẽ ưu tiên cho đường Vành đai 3 để tăng cường kết nối các địa phương lân cận, tăng cường kết nối vận chuyển hàng hóa, giảm chi phí logistics đến cảng biển. 

Về đường sắt, mạng lưới đường sắt quốc gia có tổng chiều dài 3.143 km và có 277 ga, và có 02 tuyến kết nối với Trung Quốc tại Đồng Đăng và Lào Cai. Đặc biệt, miền Bắc sở hữu tuyến đường bộ, thủy và sắt nối thẳng đến Thẩm Quyến, được mệnh danh Thung lũng Silicon Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng và phân bổ sản xuất trong khu vực. 

Hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn vừa qua đã được chú trọng đầu tư với quy mô, công nghệ hiện tại vươn tầm quốc tế đặc biệt là hệ thống cảng container (02 cảng biển lớn của Việt Nam là Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh đều nằm trong top 50 cảng container lớn trên thế giới). Hệ thống cảng biển với 286 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng hơn 96 km. Theo số liệu công bố tại hội nghị tổng kết công tác năm 2022 – triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2023 của ngành cảng biển, vận tải biển do Cục Hàng hải Việt Nam tổ chức tuần qua, tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam năm 2022 ước đạt 733,18 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2021. Trong đó, hàng xuất khẩu đạt 179,07 triệu tấn, giảm 3%; hàng nhập khẩu đạt 209,26 tấn, giảm 2%.

Nổi bật phải kể đến là cảng Cái Mép đã tiếp nhận thành công siêu tàu container Cosco Shipping Aquarius 197.049 Dwt năm 2021, Msc Ditte 200.000 Dwt năm 2022 và OoclSpain 232.000 Dwt năm 2023, những sự kiện đánh dấu cột mốc dẫn đến thành công cho cảng biển Việt Nam. Thêm vào đó, lần đầu tiên, các hãng vận tải biển đã có thể cung cấp dịch vụ trực tiếp từ Việt Nam tới khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu mà không cần đến các tàu gom để kết nối với các trung tâm trung chuyển khu vực như Singapore hay Hồng Kông. Việc không cần đến tàu gom và giảm bớt được chi phí trung chuyển ước tính tiết kiệm được khoảng 150–300USD/TEU đối với những container đi và đến Việt Nam.

Chính phủ cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, giao thương giữa các vùng, miền trong cả nước và trung chuyển, quá cảnh cho các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vận tải hành khách nội địa và quốc tế. Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.140 đến 1.423 triệu tấn (trong đó hàng container từ 38 đến 47 triệu TEU); hành khách từ 10,1 đến 10,3 triệu lượt khách.

Ngành công nghiệp sản xuất là trái tim của sự phát triển kinh tế của đất nước, và ‘sức khỏe’ của một nền kinh tế tỷ lệ thuận với độ hiệu quả của hệ thống logistics. Chính vì vậy, việc nâng cao độ hiệu quả sẽ giúp các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ vận tải và hậu cần, các cơ quan quản lý thương mại giảm thiểu những trì hoãn có thể tránh được, từ đó làm tăng sản lượng và giảm chi phí kinh doanh. 

Với những điều kiện hấp dẫn trên, Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với Dubai và Hồng Kông, thậm chí là Singapore hay Thượng Hải, không chỉ phấn đấu trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa toàn cầu mà còn là một mắt xích quan trọng như ‘cánh tay nối dài’ của công xưởng thế giới, chuyên gia Cushman & Wakefield kết luận.

Theo Vnmedia 

Scroll
082 54 55 999
082 54 55 999